1Giáo sư Đào Duy Anh với cụm công trình lịch sử và văn hóa Việt Nam
2
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn với cụm công trình Ngữ pháp và lịch sử Tiếng Việt
3
GS.TSKH Nguyễn Văn Đạo với cụm công trình “Dao động phi tuyến của các hệ động lực”
4GS Trần Văn Giàu với công trình về Lịch sử Việt Nam gồm 5 bộ, 18 tập (1956-1978)
5
Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu với “Nghiên cứu các hạt sơ cấp”
6GS Cao Xuân Huy với “Tư tưởng phương Đông” (1950 – 1960 – 1979)
7
GS. Đinh Gia Khánh với cụm công trình gồm 4 tác phẩm nghiên cứu về văn học dân gian và

văn hóa dân gian Việt Nam (1972, 1989, 1993, 1995)
8GS Đặng Thai Mai với cụm công trình gồm 8 tác phẩm: Nghiên cứu văn học Việt Nam
và văn học thế giới (1945-1984)
9Giáo sư Hà Văn Tấn “Theo dấu các văn hoá cổ”
10Giáo sư Trần Đức Thảo với “Tìm về cội nguồn ngôn ngữ và ý thức”
11
Giáo sư Lê Văn Thiêm với cụm công trình về nghiên cứu cơ bản của toán học lý thuyết và những bài toán về

ứng dụng (1960-1970)
12Giáo sư Đào Văn Tiến với: Tập hợp các công trình điều tra cơ bản động vật học
ở Việt Nam (1957 – 1980)
13Giáo sư Hoàng Tụy với các công trình thuộc lĩnh vực tối ưu toàn hóa, nổi bật là 2 công trình:
“Giải tích tối ưu toàn cục” và “Quy hoạch D.C và ứng dụng” (những năm 60)
14Giáo sư Trần Quốc Vượng với cụm công trình “Văn hoá Việt Nam – Truyền thống và hiện đại”.
15
GS. Hà Minh Đức, Giải thưởng Hồ Chí Minh, cụm công trình “Sự nghiệp văn học, báo chí

Hồ Chí Minh và một số vấn đề lý luận, thực tiễn văn hoá, văn nghệ Việt Nam”.
16
GS. Nguyễn Đình Tứ với cụm công trình “Nghiên cứu tương tác của các hạt cơ bản và hạt nhân

ở năng lượng cao và Phát hiện phản hạt Hyperon Sigma âm”
17GS. Nguyễn Văn Chiển (Tổng chủ biên) với công trình “Atlas quốc gia Việt Nam”
18
GS. Phan Huy Lê với công trình “Lịch sử và Văn hóa Việt Nam – Tiếp cận bộ phận”

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *